Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) được kỳ vọng tạo bước đột phá về tư duy, thể chế và đầu tư cho giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), đây sẽ là nền tảng để giáo dục Việt Nam bứt phá, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.
- Theo ông, đâu là điểm mới và đột phá nhất của Nghị quyết 71?
- Thứ nhất, điểm ấn tượng nhất của Nghị quyết này là đột phá về tư duy, nhận thức và quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ về thể chế trong giáo dục và đào tạo. Nghị quyết khẳng định giáo dục - đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Điều này chính là gốc rễ, nền tảng cho những thay đổi.
“Nghị quyết 71 cũng cộng hưởng với Nghị quyết 57, quyết liệt chỉ đạo xây dựng những mô hình đại học mới – đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới để trở thành nòng cốt và đầu tàu đổi mới, dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam”. - GS.TS Nguyễn Đình Đức
Nghị quyết chỉ ra rất rõ, để giáo dục và đào tạo có sự phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới, thì các luật, chính sách nhất định phải thay đổi theo. Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng: Thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội. Qua đó, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục và đào tạo có thể thu hút được mọi nguồn lực, cả hữu hình và vô hình cho sự phát triển. Từ đó nâng cao chất lượng đào tạo, sự tăng trưởng của nhà trường, cũng như hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế.
Từ Nghị quyết này có thể thấy, Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt và kỳ vọng lớn lao cho giáo dục và đào tạo: Đến 2035 phải có ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học có những lĩnh vực được xếp hạng top 100 thế giới; đến 2045 Việt Nam vào tốp 20 quốc gia có nền giáo dục công bằng, hiện đại nhất thế giới.
Bên cạnh đó, tôi đặc biệt ấn tượng, nhất trí và đánh giá cao chủ trương ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học. Như tôi đã từng phát biểu, tri thức và các công nghệ cao xuất phát từ các nhà khoa học, từ các phòng thí nghiệm của trường đại học, viện nghiên cứu. Do đó, giáo dục đại học có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện thành công Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57). Nghị quyết này không thể thành công như mong đợi nếu giáo dục đại học Việt Nam không đổi mới và cất cánh.
Nghị quyết 71 khẳng định bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Từng là người tham gia công tác chỉ đạo điều hành, lãnh đạo một trường đại học, tôi tâm đắc và đánh giá đây là chỉ đạo sáng suốt, quyết liệt, đúng và trúng với mong mỏi của các cơ sở giáo dục đại học.
Những năm qua, tự chủ đại học như luồng gió mới đã làm “thay da đổi thịt” nhiều trường đại học. Tuy nhiên, còn một số điểm nghẽn, hạn chế kìm hãm và ràng buộc. Với chỉ đạo về tự chủ đại học như vậy, tôi tin tưởng các luật, chính sách sẽ được sửa đổi theo tinh thần Nghị quyết và Nghị quyết 71 sẽ là “khoán 10” trong giáo dục đại học Việt Nam, đem lại những phát triển mạnh mẽ và đột phá cho giáo dục đại học.
Nghị quyết 71 cũng thay đổi căn bản tư duy đầu tư tài chính cho giáo dục đại học tới tầm và vượt trội; thiết thực chăm lo cho đội ngũ giảng viên và hỗ trợ tài chính; đồng thời tạo cơ hội học tập cho mọi người. Nghị quyết cũng chỉ đạo khẩn trương thúc đẩy hội nhập quốc tế mạnh mẽ hơn nữa trong giáo dục, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng các công nghệ hiện đại, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có đạo đức và trách nhiệm trong nền giáo dục hiện đại và văn minh. Đây là những điểm đổi mới rất mạnh dạn, quyết liệt với tầm nhìn xa trông rộng, đáp ứng mong mỏi của toàn xã hội.

- Nghị quyết 71 nhấn mạnh, dành ít nhất 20% tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục. Ông đánh giá như thế nào về những tác động của chính sách này đến chất lượng nguồn nhân lực và sức hút của nghề giáo thời gian tới?
- “Có thực mới vực được đạo”, việc tăng đầu tư, tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục không chỉ thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng cho giáo dục, mà còn là giải pháp cụ thể của Đảng và Nhà nước góp phần thực hiện bằng được mục tiêu đề ra cho ngành Giáo dục.
Sự đầu tư thỏa đáng này sẽ đóng vai trò quan trọng để thực hiện, hiện đại hóa nhà trường, để các trường được “trường ra trường, lớp ra lớp”. Đồng thời khi đầu tư, sẽ có trang thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nghiên cứu và gắn hoạt động đổi mới sáng tạo của các trường với doanh nghiệp tốt và nhanh hơn.
- Còn với các chế độ ưu đãi dành cho nhà giáo thì sao, liệu sức hút của nghề giáo trong thời gian tới?
- Việc nâng cao chế độ đãi ngộ là sự động viên rất lớn của Đảng và Nhà nước với nhà giáo. Đời sống, thu nhập được cải thiện, nhà giáo sẽ yên tâm công tác, toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp trồng người, tăng sức thu hút của nghề nhà giáo với xã hội.
Những giải pháp tài chính trên là những “đòn bẩy” quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đẩy nhanh tốc độ hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.

- Theo ông, chúng ta cần chuẩn bị những điều kiện gì để biến mục tiêu có một đại học lọt top 100 thế giới, 8 trường trong top 200 châu Á thành hiện thực?
- Với xuất phát điểm về xếp hạng của các trường đại học Việt Nam như hiện nay, để đạt được mục tiêu có trường đại học xếp hạng top 100 thế giới là câu chuyện không đơn giản và dễ dàng. Nhưng chính vì mục tiêu đó chúng ta phải đổi mới tư duy, đầu tư, cơ chế chính sách và đổi mới hành động để giáo dục đại học Việt Nam cất cánh.
Để đạt được mục tiêu này, trước hết phải quan tâm phát triển tiềm lực khoa học công nghệ trong các trường đại học. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất. Muốn xếp hạng cao, các trường đại học phải có đội ngũ cán bộ giảng viên đại học giỏi giang và ưu tú, không chỉ công bố khoa học đỉnh cao mà còn có năng lực đổi mới sáng tạo, gắn kết thật tốt các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp; có hoài bão cống hiến và chấn hưng đất nước. Mà đào tạo con người, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học giỏi bên cạnh đầu tư cần sự chín về thời gian.
Bên cạnh đó, phải chăm lo cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm hiện đại trong nhà trường. Thực tế với ưu thế về nghề nghiệp và xu thế phát triển của thời đại, tôi cho rằng, trường có lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ mạnh sẽ dễ sớm đạt được mục tiêu xếp hạng này nhanh hơn.
Ngoài ra, chúng ta cần tạo cơ chế để các trường đại học thu hút được nhân tài cho sự phát triển, xây dựng được những tập thể - các nhóm nghiên cứu mạnh, xuất sắc trong nhà trường.
Đặc biệt, chúng ta cần đổi mới quản trị đại học. Các trường đại học cần được tự chủ mạnh mẽ và toàn diện. Tự chủ đại học của Nhật Bản từ năm 2004 là bài học quý. Trước tự chủ, nước này chỉ có 2 trường là: Đại học Tổng hợp Tokyo và Đại học Tổng hợp Osaka xếp hạng 100 thế giới. Sau tự chủ đại học thời gian ngắn đã có 5 trường đại học thuộc top 100 thế giới; trong đó có cả trường đại học ngoài công lập.
Tự chủ đại học là cơ chế, nhưng cũng là lợi thế, nguồn lực, nhiều khi còn quan trọng và đem lại hiệu quả nhanh và mạnh hơn đầu tư tiền bạc trực tiếp. “Khoán 100, khoán 10” trước đây trong nông nghiệp là ví dụ về sức mạnh của tự chủ và cơ chế chính sách. Nghị quyết 71 chính là “khoán 10, khoán 100” trong giáo dục đại học.
Nghị quyết 71 chủ trương ưu tiên và khuyến khích đầu tư phát triển trường đại học theo mô hình đổi mới sáng tạo và kỹ thuật công nghệ hiện đại, nâng quy mô đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ lên đạt 35% tổng quy mô đào tạo.
Chủ trương này phù hợp với xu thế của thời đại. Tôi cho rằng, nếu đồng loạt triển khai quyết liệt và hiệu quả những giải pháp căn cốt và cơ bản như trên, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu: Có cơ sở giáo dục đại học góp mặt trong top 100 trên các bảng xếp hạng đại học của thế giới.

- Ông đánh giá như thế nào về cơ hội và thách thức khi Nghị quyết 71 nhấn mạnh tích hợp chuẩn năng lực số, đưa AI vào chương trình giáo dục?
- Đây là chủ trương cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay. Năm 2024, giải Nobel Vật lý đã trao cho 2 giáo sư: John J. Hopfield (Mỹ) và Geoffrey E. Hinton (Canada). Họ là những nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực máy học và mạng lưới thần kinh nhân tạo, những nền tảng cho công nghệ AI hiện đại. Công trình của họ đã tạo ra các phương pháp để máy móc học và xử lý thông tin, mở đường cho sự phát triển vượt bậc của AI ngày nay.
Cũng trong năm 2024, nhà Hóa học Mỹ David Baker đoạt giải Nobel nhờ công trình nghiên cứu, phát triển công cụ dự đoán protein do AI điều khiển tên RoseTTAFold. Trong khi đó, Demis Hassabis và John M. Jumper đoạt giải Nobel 2024 do đã phát triển thành công một hệ thống AI giải quyết được bài toán dự đoán cấu trúc protein làm đau đầu giới khoa học suốt 50 năm nay.
Những thông tin trên, cùng với sự ra đời của siêu AI (AGI - là những hệ thống có thể học mọi tri thức, có nhận thức, vượt qua trí thông minh của con người) và sự hiện diện của AI trong hầu hết lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Điều đó cho thấy, AI đã trở thành công nghệ lõi mũi nhọn, cần thiết phải đưa AI vào nhà trường. Hơn thế, các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam phải có chiến lược để tiên phong nghiên cứu và phát triển, làm chủ một số công nghệ AI phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Có thể thấy, việc đưa AI vào nhà trường với vai trò vừa là nội dung học tập, vừa là công cụ hỗ trợ dạy và học đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ. Trong đó, cần xây dựng chương trình, giáo trình phù hợp; ban hành các quy định về chuẩn mực trách nhiệm, đạo đức và liêm chính trong sử dụng AI theo từng cấp học; đồng thời chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu mới.

- Chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai liệu có khả thi?
- Việc phổ cập tiếng Anh làm ngôn ngữ thứ 2 cũng như chuyển đổi số và sử dụng AI như công cụ hỗ trợ giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong nhà trường ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là chín muồi và cần thiết. Qua đó, giúp giáo dục Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập.
Được trang bị những hành trang này ngay từ những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường cho đến giảng đường đại học, cùng với nền tảng kiến thức STEM, thế hệ trẻ Việt Nam sẽ có năng lực cạnh tranh tốt, có cơ hội làm việc trong bất cứ môi trường nào, kể cả trong nước hay các tập đoàn toàn cầu, đa quốc gia. Điều này tạo cho Việt Nam lợi thế thu hút đầu tư của các công ty nước ngoài.
Sau nhiều năm thực hiện Đề án ngoại ngữ 2020, năng lực tiếng Anh của học sinh Việt Nam có cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy, năm 2023, 2024 có gần nửa triệu bài thi, chiếm 44% (2023) và 42% (2024) số lượng thí sinh dự thi môn Tiếng Anh có điểm dưới trung bình. Năm 2025, môn Tiếng Anh được tự chọn nhưng có đến 38% số thí sinh chọn thi môn này có điểm dưới trung bình. Như vậy, xuất phát điểm việc dạy và học tiếng Anh trong các trường phổ thông của Việt Nam nhìn chung còn thấp.
Với số lượng giáo viên tiếng Anh có hạn, biên chế sinh viên trong lớp học còn lớn. Có lớp lên đến 45-50 học sinh khiến giáo viên tiếng Anh bị quá tải. Do đó, việc ứng dụng AI trong dạy và học tiếng Anh có vai trò quan trọng. AI hỗ trợ giáo viên tiếng Anh chấm nói, viết, soạn bài giảng, đánh giá tổng thể năng lực từng học sinh. AI hỗ trợ người học luyện nói, luyện viết cũng như cả 4 kỹ năng. Các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam cần vào cuộc để hỗ trợ ngành Giáo dục trong việc ứng dụng AI vào dạy - học và cấp bách là việc dạy - học tiếng Anh.
Bên cạnh đó là chương trình, giáo trình và bài giảng. Để tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 thì không chỉ dạy môn Tiếng Anh để thi IELTS, mà còn phải có chương trình, giáo trình, bài giảng và giáo viên dạy các môn chuyên môn như: Toán, Vật lí, Hóa học… bằng tiếng Anh.
Tóm lại, những chủ trương, đường lối của Nghị quyết 71 về tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 và về chuyển đổi số và sử dụng AI trong nhà trường hoàn toàn đúng đắn và bắt kịp với xu thế thời đại. Để thực hiện được những nội dung trên, chúng ta phải nắm rõ thực trạng, để có giải pháp đúng, hiệu quả. Song, quan trọng nhất cần có chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo và quyết tâm lớn của ngành Giáo dục. Cùng đó, cần đầu tư bài bản và sự đồng hành của học sinh, phụ huynh, các doanh nghiệp và toàn xã hội với nhà trường và ngành Giáo dục.

- Ông kỳ vọng Nghị quyết 71 sẽ tạo ra những thay đổi gì cho giáo dục, nhất là trên hành trình chuẩn bị nguồn nhân lực cho khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045?
- Đích đến của Nghị quyết 71, cũng là kỳ vọng của những người làm giáo dục là xây dựng nền giáo dục thực chất, nơi “học thật – nhân tài thật” trở thành giá trị cốt lõi. Giáo dục không chỉ đào tạo người học có trình độ chuyên môn cao, giỏi ngoại ngữ, làm chủ công nghệ, đặc biệt là AI, mà còn phải bồi dưỡng những con người giàu lòng yêu nước, có khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của nhân dân.
Trong tầm nhìn dài hạn, ngành Giáo dục cần thực hiện tốt sứ mệnh phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ trí thức tinh hoa. Đây là lực lượng kế cận có đủ năng lực làm chủ đất nước trong tương lai và là “nguyên khí quốc gia”, góp phần bảo đảm sự phát triển độc lập, tự chủ và bền vững của dân tộc. Đồng thời, Việt Nam cần xây dựng những cơ sở giáo dục đại học uy tín, từng bước tiệm cận và sánh ngang với các trường đại học hàng đầu trong khu vực và thế giới.
- Trân trọng cảm ơn ông!
“Nghị quyết 71 như bước cải tổ quan trọng đối với giáo dục Việt Nam. Kỳ vọng lớn nhất là Nghị quyết sẽ tạo động lực để giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học bứt phá mạnh mẽ; đồng thời tạo sự cộng hưởng với các chủ trương lớn về khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế. Từ đó, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phát triển, giàu mạnh, có vị thế vững chắc trên trường quốc tế”. - GS.TS Nguyễn Đình Đức