Chính sách giáo dục

Địa phương triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển GD-ĐT: Tạo hợp lực thực chất

Hiếu Nguyễn 19/04/2026 12:40

Trong bối cảnh Nghị quyết 71-NQ/TW xác định giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, việc hình thành hợp lực thực chất giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp càng trở thành yêu cầu cấp thiết.

Ảnh minh họa INT.
Ảnh minh họa INT.

Các chuyên gia cho rằng cần giải pháp đồng bộ, từ thể chế, củng cố niềm tin đến xây dựng cơ chế hợp tác gắn trách nhiệm và lợi ích, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

GS.TS Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh: Phát huy 3 mấu chốt là niềm tin, thể chế, cơ chế trách nhiệm chung

tao-hop-luc-thuc-chat-2.jpg
GS.TS Ngô Thị Phương Lan.

Hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp (mô hình “3 nhà”) từ lâu được xem là trụ cột trong phát triển nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo tôi, để mô hình hợp tác “Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp” phát huy hiệu quả thực chất, không nằm ở số lượng các bản ký kết hay chương trình hợp tác, mà là xây dựng được niềm tin, thể chế và cơ chế trách nhiệm chung giữa các bên.

Tôi cho rằng, niềm tin là nền tảng, yếu tố quyết định để hợp tác không còn mang tính hình thức. Niềm tin này phải được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đổi mới sáng tạo, cùng những cam kết dài hạn về chia sẻ dữ liệu, tiêu chuẩn đào tạo, đánh giá kết quả và quyền sở hữu trí tuệ.

Khi niềm tin được củng cố, doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư vào đào tạo và nghiên cứu, nhà trường chủ động đổi mới chương trình theo nhu cầu thực tế, Nhà nước tạo điều kiện bằng chính sách ưu đãi. Đây cũng là nền tảng để đối phó với những rủi ro khi kết quả hợp tác không ngay lập tức xuất hiện, nhưng có giá trị bền vững trong trung và dài hạn.

Thể chế cũng là vấn đề hết sức quan trọng. Thể chế minh bạch và đồng bộ là điều kiện tiên quyết để hợp tác thực chất. Hiện tại, nhiều quy định về tài chính, sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ vẫn thiếu thống nhất, rõ ràng.

Việc hoàn thiện khung pháp lý - như trong dự thảo Nghị định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học - đề cao cơ chế “đồng sở hữu kết quả nghiên cứu chung”, khuyến khích doanh nghiệp góp vốn cho quỹ khoa học của trường, sẽ giúp cân bằng quyền lợi của các bên và tạo động lực thực chất cho doanh nghiệp tham gia hợp tác lâu dài.

Việc cùng xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hợp tác dựa trên kết quả đầu ra (chất lượng sinh viên, số lượng bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ, doanh thu từ sản phẩm nghiên cứu…) và chia sẻ rủi ro khi mục tiêu chưa đạt được sẽ giúp doanh nghiệp, trường học yên tâm đầu tư nguồn lực.

Từ góc nhìn thực tiễn, tôi cho rằng mô hình hợp tác hiệu quả nhất hiện nay là “mô hình tam giác đổi mới sáng tạo”. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và khuyến khích như hỗ trợ tài chính ban đầu, ưu đãi về thuế cho các dự án hợp tác. Nhà trường là trung tâm nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao tri thức. Doanh nghiệp là đối tác ứng dụng và phát triển.

Triển khai trong thực tế, sự ra đời của Trung tâm đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là một minh chứng sống động cho mô hình hợp tác “ba nhà” hiệu quả. Với sự ký kết hợp tác giữa Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và UBND thành phố và giữa Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với các doanh nghiệp, một niềm tin đã được thiết lập.

Từ đây, Trung tâm Đổi mới sáng tạo, với sự hỗ trợ của Thành phố về cơ chế, chính sách; sự đầu tư và đồng hành của doanh nghiệp, sẽ góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua các hoạt động như thực tập tại doanh nghiệp, phối hợp ươm tạo startup và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo tại Trung tâm.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, hợp tác hiệu quả sẽ thúc đẩy chuyển đổi số và đáp ứng nhu cầu lao động của nền kinh tế mới, đồng thời giúp Nhà nước thực thi các nghị quyết chiến lược, như Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 59-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế - nơi hợp tác “3 nhà” được xem là một trong những động lực chiến lược để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Ông Vũ Văn Trường - Hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Lư (Ninh Bình): Cần luật hóa mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp

tao-hop-luc-thuc-chat-3.jpg
Ông Vũ Văn Trường.

Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là cơ hội lớn để các trường đại học phát triển.

Mô hình hợp tác “3 nhà” - Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, được Trường Đại học Hoa Lư xác định là một trong những giải pháp cốt lõi để phát triển đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thời gian tới.

Để phát huy hiệu quả hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, khắc phục tình trạng liên kết còn hình thức, thiếu bền vững hiện nay, theo tôi cần có những điều kiện sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần luật hóa mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Quy định rõ: Nhà nước đóng vai trò, trách nhiệm gì? Nhà trường đóng vai trò, trách nhiệm gì? Doanh nghiệp đóng vai trò, trách nhiệm gì trong hợp tác “3 nhà”.

Ví dụ, Nhà nước đóng vai trò quy hoạch, kiến tạo, xây dựng thể chế, chính sách về đầu tư nguồn lực tài chính, con người, cơ sở vật chất, ưu đãi về thuế cho Nhà trường và doanh nghiệp… để thuận lợi trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Nhà trường đóng vai trò là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Doanh nghiệp đóng vai trò là nơi tiếp nhận các sản phẩm đào tạo, sản phẩm khoa học - công nghệ của nhà trường ứng dụng vào thực tiễn.

Thứ hai, nhà trường cần chuẩn bị tốt các điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất, tài chính, chương trình đào tạo để đáp ứng yêu cầu của Nhà nước, doanh nghiệp về nguồn nhân lực, sản phẩm khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, doanh nghiệp cần hỗ trợ, tài trợ nhà trường trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; cung cấp cho môi trường thực hành, thực tập nghề nghiệp, thực nghiệm nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ.

Về đề xuất mô hình hợp tác cụ thể, gắn kết lợi ích và trách nhiệm của các bên, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng nghiên cứu khoa học…, theo tôi, các bộ, ngành, địa phương quản lý cơ sở giáo dục đại học cần thành lập Ban Chỉ đạo điều phối hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, với nhiệm vụ cơ bản:

Tham mưu cho cấp có thẩm quyền quy định rõ mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Xây dựng, triển khai kế hoạch hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa nhà trường, doanh nghiệp hàng năm.

Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, bảo đảm đúng cam kết, đúng quy định pháp luật.

TS Nguyễn Văn Đạo - Trường Đại học Văn Lang: Giải pháp hợp lực thực chất, khắc phục triệt để tư duy hành chính, cách làm hình thức

tao-hop-luc-thuc-chat-4.jpg
TS Nguyễn Văn Đạo.

Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ghi rõ: Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW thì xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; trong đó nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của Nhà nước, vai trò trung tâm, chủ thể của doanh nghiệp và vai trò then chốt của đội ngũ nhà khoa học.

Để hiện thực hóa tinh thần này trong lĩnh vực giáo dục đại học, việc tạo lập sự hợp lực thực chất giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cần được triển khai bằng những giải pháp cụ thể, nhất quán, khắc phục triệt để tư duy hành chính và cách làm hình thức.

Trước hết, hoàn thiện thể chế theo đúng tinh thần thể chế “đi trước một bước”. Trong lĩnh vực giáo dục đại học và khoa học - công nghệ, điều này đòi hỏi phải khẩn trương rà soát, sửa đổi đồng bộ các quy định liên quan đến quản lý nhiệm vụ khoa học, đầu tư công, ngân sách, tài sản công, sở hữu trí tuệ và mua sắm công.

Trường đại học cần được xác lập rõ là “chủ thể nghiên cứu mạnh”, có quyền đề xuất, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về các nhiệm vụ nghiên cứu, nhất là nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Cơ chế đặt hàng nghiên cứu cần chuyển mạnh từ phân bổ hành chính sang hợp đồng nghiên cứu gắn với sản phẩm đầu ra cụ thể, xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp, phù hợp với yêu cầu Nghị quyết số 57-NQ/TW về gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo.

Thứ hai, trao quyền tự chủ thực chất cho các cơ sở giáo dục đại học, đúng với tinh thần giao quyền đi đôi với trách nhiệm giải trình mà Nghị quyết của Bộ Chính trị nhấn mạnh. Tự chủ ở đây không chỉ là tự chủ tài chính, mà trước hết là tự chủ trong tổ chức nghiên cứu, sử dụng nguồn lực và hợp tác với doanh nghiệp.

Các trường đại học cần được chủ động thành lập trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ trực thuộc; được quyền ký kết, triển khai các hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước.

Cùng đó, cần đổi mới hệ thống đánh giá, xếp hạng và thi đua trong các cơ sở giáo dục đại học, coi kết quả nghiên cứu ứng dụng, sáng chế, giải pháp hữu ích, doanh thu từ chuyển giao công nghệ là tiêu chí quan trọng, phù hợp với yêu cầu Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội.

Thứ ba, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo liên ngành đặt tại các trường đại học theo mô hình mở. Các trung tâm này cần hoạt động trên nguyên tắc linh hoạt, không bó hẹp trong biên chế hành chính, cho phép giảng viên, nhà khoa học, sinh viên, nghiên cứu sinh và chuyên gia doanh nghiệp cùng tham gia theo dự án.

Doanh nghiệp đóng vai trò đồng thiết kế bài toán nghiên cứu, đồng hành trong quá trình triển khai và tiếp nhận kết quả. Qua đó, kết quả nghiên cứu không chỉ phục vụ sản xuất, kinh doanh mà còn trở thành cơ sở điều chỉnh chương trình đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính cho nghiên cứu ứng dụng và đổi mới sáng tạo theo hướng Nhà nước dẫn dắt, doanh nghiệp là chủ thể đầu tư. Ngân sách nhà nước cần được sử dụng theo cơ chế quỹ, đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung hỗ trợ các giai đoạn nghiên cứu ban đầu có độ rủi ro cao.

Doanh nghiệp tham gia góp vốn ở giai đoạn phát triển sản phẩm, thử nghiệm và thương mại hóa, thông qua các hợp đồng hợp tác hoặc thỏa thuận đầu tư rõ ràng. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu, bảo đảm quyền lợi chính đáng của giảng viên, nhà khoa học và cơ sở giáo dục đại học, qua đó tạo động lực để đội ngũ trí thức yên tâm cống hiến.

Thứ năm, thiết lập cơ chế kết nối, đối thoại thường xuyên và thực chất giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đại học, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các diễn đàn, hội nghị kết nối cần tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể: Doanh nghiệp cần công nghệ gì, trường đại học có năng lực gì, Nhà nước cần tháo gỡ vướng mắc gì về thể chế và chính sách.

Việc tổng kết, nhân rộng các mô hình hợp tác hiệu quả cần được coi là một nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước về giáo dục đại học và khoa học, công nghệ, phù hợp với yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội.

Có thể khẳng định, khi các giải pháp trên được triển khai đồng bộ, sự hợp lực giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp sẽ chuyển từ hình thức sang thực chất. Khi đó, giáo dục đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực, mà thực sự trở thành trung tâm tri thức, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, góp phần trực tiếp hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW.

NGƯT.TS Phạm Xuân Khánh - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội: Yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam hỗ trợ lại cho các cơ sở đào tạo

tao-hop-luc-thuc-chat-1.jpg
NGƯT.TS Phạm Xuân Khánh.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp, từ biên soạn chương trình, giáo trình; tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành kỹ năng nghề; tiếp nhận tài trợ học bổng và trang thiết bị hỗ trợ cho đào tạo; bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp; thực hành, thực tập; hợp tác nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, chuyển giao công nghệ; thu hút đội ngũ các chuyên gia có kỹ năng nghề giỏi, kỹ sư giỏi của các doanh nghiệp tham gia giảng dạy…

Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích đào tạo tại doanh nghiệp, đào tạo theo đơn đặt hàng, theo địa chỉ; thúc đẩy hợp tác trong nghiên cứu, sản xuất sản phẩm. Trên cơ sở lợi ích hài hòa giữa các bên, phát triển các mô hình hợp tác với doanh nghiệp như thành lập trung tâm đào tạo, nghiên cứu, sản xuất trong cơ sở đào tạo; hình thành doanh nghiệp để thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ.

Trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế, tôi có một số đề xuất, kiến nghị sau:

Thứ nhất, đầu tư phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ. Cần được tổ chức nhiều khoá đào tạo, bồi dưỡng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, các ngành nghề mới trong và ngoài nước cho cán bộ, giảng viên có năng lực nghiên cứu, sản xuất trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Ngoài ra, tổ chức các khóa đào tạo trang bị kiến thức về quy định, chính sách của pháp luật, định giá công nghệ và sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; kỹ năng tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ; kỹ năng thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ; kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng; kiến thức về khởi nghiệp công nghệ; đào tạo nâng cao thực hành làm chủ công nghệ...

Thứ hai, đầu tư nâng cấp, mở rộng hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, đồng bộ, xây dựng nền tảng số dùng chung. Xây dựng kho dữ liệu dùng chung bao gồm học liệu số, thư viện điện tử, tuyển sinh, quản lý học sinh, sinh viên, quản lý học tập LMS, đầu tư xây dựng và phát triển trung tâm dữ liệu, nghiên cứu phát triển các ứng dụng AI để giúp cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp đẩy nhanh chuyển đổi số.

Thứ ba, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tiếp nhận các dự án ODA từ các nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức... Các dự án ODA là mô hình hợp tác công tư hiệu quả nhằm giúp đề xuất, tư vấn, nghiên cứu phát triển giáo dục nghề nghiệp; giúp tăng cường kết nối giữa Nhà nước, các doanh nghiệp, viện, trường, chuyên gia trong và ngoài nước, giảm bớt phần nào khó khăn về vốn cũng như công nghệ mà Việt Nam đang gặp khó khăn; đồng thời giảm thiểu được rủi ro về đầu tư ban đầu trong xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm. Đây là một giải pháp huy động, phát huy tối đa tiềm năng các nguồn lực.

Thứ tư, cho phép mở rộng các cơ sở đào tạo cao đẳng chất lượng cao tham gia vào chương trình “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn” mà trong Quyết định số 1017/QĐ-TTg chưa đề cập tới. Đây là nguồn lực chất lượng cao, có kỹ năng thực hành phù hợp với một số công đoạn như kiểm thử, đóng gói vi mạch, sản xuất thiết bị và nguyên liệu trong hệ thống sản xuất.

Thứ năm, yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam hỗ trợ lại cho các cơ sở đào tạo. Chính phủ đã có chủ trương chính sách, cơ chế ưu đãi đặc thù để hỗ trợ đầu tư, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia phát triển chuỗi cung ứng, tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp lớn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc thù.

Đổi lại, yêu cầu các doanh nghiệp trong lĩnh vực này phải hỗ trợ lại cho các cơ sở đào tạo từ đầu tư công nghệ, cử chuyên gia xây dựng chương trình, tham gia đào tạo giáo viên, tạo cơ hội học tập và giải quyết việc làm cho sinh viên. Có thể đầu tư thành lập các trung tâm đào tạo, nghiên cứu, phòng thí nghiệm, thực hành đồng bộ, hiện đại.

“Hiện nay, mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp vẫn chủ yếu là nhà trường và các doanh nghiệp ký kết bản ghi nhớ hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường, ít có sự tham gia của Nhà nước.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần phải tham gia giữ vai trò là người điều phối, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các hoạt động hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ giữa nhà trường với doanh nghiệp, nhằm bảo đảm doanh nghiệp và nhà trường thực hiện đúng quy định pháp luật”. - Ông Vũ Văn Trường - Hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Lư

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/dia-phuong-trien-khai-nghi-quyet-so-71-nqtw-ve-dot-pha-phat-trien-gd-dt-tao-hop-luc-thuc-chat-post774057.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/dia-phuong-trien-khai-nghi-quyet-so-71-nqtw-ve-dot-pha-phat-trien-gd-dt-tao-hop-luc-thuc-chat-post774057.html
Bài liên quan
Nghị quyết 71-NQ/TW: Trí tuệ nhân tạo - đòn bẩy tái cấu trúc toàn diện giáo dục và đào tạo
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra bước ngoặt mới cho giáo dục. Không dừng lại ở vai trò công cụ hỗ trợ, AI đang trở thành “đòn bẩy” thúc đẩy quá trình tái cấu trúc toàn diện, từ quản trị, giảng dạy đến nghiên cứu, mở ra một hệ sinh thái giáo dục linh hoạt và thích ứng hơn với thời đại số, theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ-TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Địa phương triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển GD-ĐT: Tạo hợp lực thực chất